Rasul Gamzatov

Rasul Gamzatov

            Vòi vọi cao hơn những đám mây, trong những dãy núi Kavkaz sinh sống các dân tộc anh em Dagestan gồm 36 sắc dân, trong đó có cả người Avar. Rasul Gamzatov, nhà thơ của nhân dân Dagestan chào đời tại một ngôi làng của người Avar tên là Tsada,  Đông-Bắc Kavkaz vào ngày 8 tháng 9  năm 1923.[i]  

            Gamzatov nhớ lại cách ông được đặt tên trong cuốn hồi ký trữ tình nổi tiếng của mình Dagestan Của Tôi (1967 - 1971). Ông là con trai thứ ba trong gia đình, theo truyền thống Dagestan, vì ông là một cậu bé, súng trường được chĩa lên trần nhà ngay trong ngôi nhà nơi ông được sinh ra và đạn thật đã được bắn để vinh danh cậu bé. Mẹ ông đã trao đứa trẻ sơ sinh của dòng họ Gamzatov cho một vị cao niên đáng kính, ông đã chọn cho cậu bé cái tên Rasul - có nghĩa là vị sứ giả, người truyền tin - sau đó ông thì thầm cái tên Rasul vào một bên tai của cậu bé, rồi hét nó vào tai kia.

            Cha của ông, Gamzat Tsadasa, là một nghệ sĩ hát rong nổi tiếng. Những nghệ sĩ hát rong luôn được trọng vọng ở Dagestan. Vào đầu những năm 20 của thế kỷ 20, khi các thầy giáo Xô-viết đầu tiên đặt chân đến những ngôi làng Dagestan, phụ nữ sẽ đến nghe giảng bài, nhưng ngồi quay lưng về phía thầy giáo, bởi họ không được để người lạ nhìn thấy gương mặt mình. Nhưng khi một nghệ sĩ hát rong cất tiếng hát, thì phụ nữ sẽ quay lại để thể hiện sự tôn trọng với nghệ thuật của ông, thậm chí được phép kéo mạng che mặt ra phía sau, để lộ gương mặt.

            Cậu bé Rasul có thể kiên nhẫn lắng nghe hàng buổi những câu chuyện dân gian, truyền thuyết và ngụ ngôn của người Avar mà cha cậu kể lại. “Khi tôi còn rất nhỏ, cha thường quấn tôi trong tấm áo choàng da cừu và ngâm những bài thơ của ông cho tôi nghe, vì vậy tôi thuộc tất cả thơ của ông trước khi biết cưỡi ngựa hay thắt đai lưng". [ii]

            Cậu sẵn sàng chăn ngựa ba ngày cho một người hàng xóm, chỉ cần ông trả công bằng cách kể cho cậu nghe một câu chuyện.

            Năm lớp hai, cậu cuốc bộ 12 dặm để được gặp một người bạn vong niên của cha cậu, vốn biết nhiều dân ca, thơ và truyền thuyết. Ông lão đã hát và ngâm cho cậu bé nghe suốt bốn ngày, từ sáng đến tối. Rasul chép lại tất cả những gì có thể và hạnh phúc trở về nhà với một túi đầy thơ.

            Vào một ngày khác, cậu leo núi nửa ngày, đến với những mục đồng trong thung, rồi lại đi bộ nửa ngày để về nhà, chỉ đề nghe một bài thơ duy nhất.

            Rasul chỉ mới 11 tuổi khi viết những vần thơ đầu tiên. Đó là bài thơ về một nhóm các cậu bé miền sơn cước đã chạy đến đón chiếc máy bay đầu tiên hạ cánh xuống quê hương họ.

            Cha cậu là thầy giáo đầu tiên của cậu trong nghệ thuật thơ. “Về những bài thơ đầu tiên của tôi, ông nói “Dù trong đám tro tàn, nếu biết cời lên, con vẫn có thể tìm thấy chí ít một đốm than hồng tỏa sáng.”

            Năm 1940, ông tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm ở Buynaksk, rồi dạy học ngay tại ngôi trường làng mình. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, với sự bảo trợ của chính giám đốc Nhà hát Avarskogo, ông làm việc cho nhà hát ở vị trí trưởng phòng. Ông cũng làm phóng viên cho tờ báo Bolshevik Mountains, cũng là biên tập viên cho chương trình phát thanh tiếng Avar ở Dagestan.

            Cuốn thơ đầu tiên của ông được xuất bản. Gamzatov vui mừng khôn xiết khi nhận được những lá thư dài của những cô gái vùng sơn cước đã đọc nó. Và cho mãi đến sau này, ông vẫn không thể quên nỗi đau khi nhìn thấy những chàng mục đồng trên đồng cỏ mùa đông xé cuốn thơ để cuộn một điếu thuốc. Đó là vào năm 1943.

            Năm 1945, cắp nách vài cuốn thơ đầu tay được in bằng tiếng Avar, chút tiền dành dụm trong túi, Rasul đến Moscow xin vào Trường viết văn Gorky. Việc ghi danh vào trường viết văn mang tên đại văn hào Xô-viết là bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp của ông.

            Ở đó, hòa mình giữa các nhà thơ trẻ đến từ khắp các nước cộng hòa Liên bang Xô-viết, dưới sự hướng dẫn của các nhà văn kỳ cựu, ông đã nghiên cứu văn học Nga, văn học thế giới và tập sáng tác thơ. Đến lượt mình, ông đã yêu Blok, Mayakovsky, Yesenin; say mê Pasternak, Tsvetayeva, Bagritsky, Avar Makhmud; tôn kính Heine... Nhưng Pushkin và Lermontov luôn là tình yêu gan ruột và trung thành trong tâm hồn thơ của ông.

            Trong hơn nửa thế kỷ, Rasul Gamzatov là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của Liên Xô (cũ). Tuôn ra từ ngòi bút của ông là những đoản thi về tình yêu, những áng thơ dài, trường ca, sử thi đậm tính triết học, những vần thơ mang lại cho ông hàng triệu độc giả trung thành.

            Rasul Gamzatov viết bằng tiếng Avar mẹ đẻ của mình, một ngôn ngữ chỉ được nói bởi 170.000 người. Người Avars, cùng với người Darghin, Lezghins và Kumyks là một trong những sắc dân lớn trong hai triệu dân Dagestan, nơi có 36 ngôn ngữ khác nhau được nói hàng ngày. Theo truyền thuyết, một kị sĩ đã cưỡi ngựa khắp thế gian để phân phát các ngôn ngữ, anh ta đã ném cả một bao tải đầy ắp các thứ tiếng vào các hẻm núi Kavkaz. [iii] Đó là truyền thuyết, còn trong thực tế đương đại, các vấn đề về dịch thuật là một rào cản quá quen thuộc với người dân Dagestan, nơi các cuốn sách được viết và xuất bản bằng chín ngôn ngữ khác nhau.

            Rasul Gamzatov đã may mắn gặp được các dịch giả tiếng Nga của mình - Naum Grebnev và Yakov Kozlovsky… nhiều bản dịch xuất sắc đã trở thành tác phẩm kinh điển của thơ ca Nga. Thường sau khi ngâm các bài thơ của mình bằng tiếng Avar với nhịp điệu mạnh mẽ, tác giả thường sẽ rất tự nhiên đọc tiếp bản dịch tiếng Nga, thứ tiếng ông cũng rất thông thạo. [iv]

            Đến lượt mình, Gamzatov đã dịch rất nhiều tác phẩm thơ sang Avar, bao gồm các tác phẩm của Mikhail Lermontov, Nikolay Nekrasov, Taras Shevunn, Alexander Blok, Mayakovski, và Sergei Yesenin… Nhiều tác phẩm thơ và văn xuôi của Gamzatov được phổ nhạc, được chuyển thể cho sân khấu và opera.

            Giành giải thưởng Lenin về thơ và được vinh danh là Nhà thơ Nhân dân của Dagestan, Gamzatov cũng là Chủ tịch Hiệp hội các nhà văn Dagestan và một nghệ sĩ có sức ảnh hưởng tầm quốc tế. Ông là một người đi nhiều, ông đã đặt chân lên khắp châu Âu, châu Á và Mỹ. [v]

            Một đề tài thi ca nổi bật của Gamzatov là Chủ nghĩa anh hùng trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại, ông viết trong niềm tưởng nhớ da diết đến hai người anh trai của mình đều hy sinh trong chiến tranh. Bài thơ nổi tiếng nhất của Gamzatov là Журавли (Đàn Sếu) đã được sáng tác sau chuyến thăm Nhật Bản, nơi ông đến thăm tượng đài Sadako, một cô bé Nhật Bản là nạn nhân của vụ ném bom nguyên tử Hiroshima, mất vì ung thư khi mới 12 tuổi. Gamzatov vô cùng xúc động trước tượng đài và câu chuyện bi thương, và càng thêm rung động khi đọc được bức điện báo tin mẹ qua đời. Ông đã sáng tác bài thơ Đàn Sếu trên chuyến bay trở về Moscow, trong niềm suy tưởng tới cha và hai người anh trai đã hy sinh.

            Bài thơ được phổ nhạc và trở thành bài hát chủ đề cho bộ phim duy nhất của điện ảnh Xô-viết đoạt giải Liên hoan phim Cannes năm 1957 – Khi Đàn Sếu Bay Qua.

            Những năm cuối đời, ông sống với ba cô con gái Zarema, Patimat và Salikhat ở thành phố Makhachkala, bên bờ biển Caspi. Ngôi nhà của ông mở rộng cho tất cả mọi người. Với niềm tự hào về nghề thủ công tinh xảo của quê hương, ông giới thiệu cho bạn bè bộ sưu tập kiếm, áo choàng, sừng rượu và đồ gốm làm nên danh tiếng của Dagestan. [vi]

            Trong lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của mình, Gamzatov đã bay tới Sochi trên bờ Biển Đen, nơi Tổng thống Nga Vladimir Putin trao tặng ông Huân chương Thánh Andrew vì đã "đóng góp xuất sắc cho văn học quốc gia và đời sống cộng đồng tích cực".

            Ông mất tại Moscow năm 2003. Skandarbek Tulparov, giám đốc Nhà hát Kịch Nga nói "Khi Gamzatov mất đi, tưởng như cả thế kỷ 20 đã chết cùng ông. Nhưng không có khoảng trống nào để lại, bởi nó chứa đầy thi ca của ông". [vii]

           

 

Tác Phẩm Của Rasul Gamzatov

Tất cả tác phẩm

Các tác giả khác